A. ĐỌC BÁO

A1.Khoa học,giáo dục,công nghệ
A2. Thảo luận về giáo dục
A3. Tâm lý giáo dục
A4. Kinh tế, chính trị
A5. Văn hoá, xã hội
*

B. Bàn tròn

B1. BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC
B2. GIÁO VIÊN
B3. HỌC SINH
B4. PHỤ HUYNH
B5. HỎI ĐÁP
*

C. TƯ LIỆU

C1. BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
C2. GIÁO ÁN
C3. ĐỀ TÀI
C4. ĐỀ KIỂM TRA
C5. TƯ LIỆU 1 (word,pdf)
C6. TƯ LIỆU 2 (hình,video,audio)
*

D. KHÁM PHÁ - GIẢI TRÍ

D1. VẺ ĐẸP ĐẤT NƯỚC
D2. VÒNG QUANH THẾ GIỚI
D3. CUỘC SỐNG
D4. PHIM ẢNH, ÂM NHẠC
*

E. ĐÀO VÀNG

1. MMO-Make money online
2. MLM-Multi level marketing
3. Business (tradition)
*

Nội dung

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

2011_chuan.swf Ha_noi_niem_tin.swf BHCA.swf Con_duong_xua_em_di__loan.swf Namhocmoi_2.swf Daythonvyda.swf Emdiduacom.swf Violet1.swf Ve_day_2.swf Videoplayback_10.flv Du_Am__Nguyen_Van_Ty_Delena__Anh_Khoa__YouTube_4.flv Hatinhminhthuong.swf Binh_yen.flv Toc_may.flv Ngay_xua_Hoang_Thi.flv Quynh.swf Motminh1.swf Khuc_thuy_du_mai.swf Videoplayback_95.flv Videoplayback_52.flv

LỊCH VẠN NIÊN

*

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Gốc > A4, Kinh tế - Chính trị >

    Tìm hiểu Trung Quốc

    Quân sự Trung Quốc mạnh cỡ nào?

     Những phát ngôn nóng bỏng của các nhà bình luận quân sự tq trong những tháng gần đây không khỏi khiến các nhà quan sát đặt câu hỏi về việc liệu Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) phải chăng đang đóng một vai trò ngày càng lớn trong hoạt động hoạch định chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Bắc Kinh. Sự trở nên quyết liệt hơn, dù khôn ngoan hơn của Trung Quốc, khiến vấn đề ảnh hưởng của quân đội trong Trung Nam Hải càng có ý nghĩa quan trọng hơn giúp tìm hiểu chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc trên thực tế có đang phát huy tác dụng.

    Liệu ảnh hưởng lớn hơn của PLA tại Bắc Kinh có thể được giải thích mà không cần liên hệ tới những lời lẽ gay gắt của giới bình luận hiếu chiến - những người mà chưa rõ thẩm quyền đến đâu - như Dương Nghi và La Viện? Câu trả lời đơn giản là có và bằng chứng đang cho thấy rõ thực tế này. Tuy nhiên, phần lớn chúng ta vẫn chưa hiểu đầy đủ về vai trò của PLA vẫn.

    Thứ nhất, ở vào thời điểm khi các phe phái chính trị ít kết dính và liên hệ với nhau hơn trước đó, cần phải lưu ý rằng PLA chỉ kiểm soát hơn 20% Hội đồng Trung ương - một cơ quan trên danh nghĩa lựa chọn ra Bộ chính trị và Ủy ban thường vụ quốc hội. Tuy nhiên, mặc dù PLA không phải là người lập "hoàng đế", nhưng lực lượng này có thể phủ quyết các lựa chọn cho các vị trí cấp cao tại Đại hội Đảng lần thứ 18 vào mùa thu năm nay. Điều đó có tiềm năng đặt quân đội Trung Quốc ở vào thế có thể đòi hỏi nhượng bộ, tập hợp các cam kết, và khuyến khích những người có tham vọng chính trị hơn ủng hộ các ưu tiên của PLA.

    Tuy nhiên, các nhà quan sát cũng nên lưu ý không dấn sâu những thông tin này - ít nhất là khi chưa có những nghiên cứu xa hơn. Nghiên cứu lớn về các phe phái trong PLA được xuất bản đã cách đây gần 20 năm và chúng ta không rõ sự thống nhất của PLA trong Ủy ban trung ương với tư cách là một khối thống nhất ra sao. Hơn nữa, PLA chỉ có 2 ghế trong Bộ chính trị và không có đại diện trong Ủy ban thường vụ quốc hội, do đó vai trò của quân đội trong công tác chính trị có thể chỉ mang tính gián tiếp chứ không nhất thiết là thường trực.

    Thứ hai, như David Finkelstein của CNA Corporation ghi nhận hồi năm ngoái, PLA cũng có thể trình lên giới lãnh đạo các lựa chọn chính sách. Trong cuộc khủng hoảng Eo biển Đài Loan 1995/1996, PLA phải chấp nhận trước các lãnh đạo dân sự rằng PLA không có nhiều vai trò trong vấn đề Đài Loan hay trước các lực lượng Mỹ triển khai tới khu vực. Điều này không còn đúng trong thời điểm hiện nay. Dù là việc sơ tán công dân tq khỏi Libya, hay hoạt động tuần tra chống cượp biển tại vịnh Eden hay khả năng áp đặt (chứ chưa phải giành được) Đài Loan, PLA đã chứng tỏ rằng mình có vị trí để đưa ra khuyến nghị với các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc. Những người có thể đề xuất lựa chọn và giải pháp gần như luôn chiến thắng trên bàn hoạch định chính sách trước những người chỉ nêu ra những trở ngại.

    Thứ ba, PLA đang trở nên ngày càng chuyên nghiệp hơn trong vai trò của một lực lượng chiến đấu với nhiều năng lực hơn ở cả trên bộ, trên biển, trên không và trên vũ trị. Theo đuổi hiện đại hóa, quân đội Trung Quốc đang cố gắng phá vỡ các giới hạn hoạt động trong các lĩnh vực này. Việc tập chung hơn vào các chiến dịch chính xác cao hơn trong những lĩnh vực chât chội này sẽ cho phép PLA chiến đấu theo phương thức căn bản khác biệt. Lục quân PLA đang trong quá chính chuyển đổi lớn cả về học thuyết và công nghệ. Điều đó có nghĩa là việc hiểu được PLA có thể làm được những gì còn khó khăn hơn khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam vào năm 1979 hay khi tq gửi quân tình nguyện tới Triều Tiên vào năm 1950.

    Thứ tư, giới lãnh đạo chính trị hiện nay gần như không có kinh nghiệp trực tiếp với các vấn đề chính trị và phải hoàn toàn dựa vào PLA về chuyên môn quân sự hay ở một mức độ nào đó là chính trị quân sự. Không giống như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình, Hồ Cẩm Đào và người được cho là sắp kế nhiệm, Đặng Tiểu Bình, không có trải nghiệm trực tiếp với việc sử dụng lực lượng quân đội để đạt được các mục đích chính trị và có lẽ sẽ phải dựa vào người khác về chuyên môn quân sự. Điều đó có nghĩa là Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình phải phụ thuộc rất lớn do thiếu kinh nghiệm về các vấn đề quân sự để đưa ra những đánh giá cho những hành động phù hợp. Họ có biết vấn đề nào đang được đặt ra? PLA có có trình bầy lên một văn bản hợp lý? Hay phản ứng của PLA và Hội đồng Quân sự trung ương trước các yêu cầu về thông tin ra sao?

    Cũng chưa rõ liệu Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình có tìm thấy những hỗ trợ chuyên môn khi cần thiết. Trong số những nghiên cứu về vấn đề quân sự trong Cơ sở hạ tầng tri thức quốc gia hay kho sách Trung Quốc,  các tác giả PLA vẫn chiếm tuyệt đại đa số các nghiên cứu chiến lược. Ngược lại với Anh hay Mỹ, Trung Quốc dường như không có một ngành phân tích quốc phòng dân sự phát triển.

    Đơn cử, nếu Nhá Trắng muốn một đánh giá khác với của Lầu năm góc, họ có thể tìm tới bất kỳ trong số rất nhiều các viện nghiên cứu và nhóm chuyên gia - như Trung tâm Đánh giá chiến lược và ngân sách, Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế, và Trung tâm An ninh Mỹ mới, đó là chưa kể tới các Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoạt động bằng ngân sách liên bang - để thu thập các phân tích quân sự được thực hiện rất chuyên nghiệp. Tuy nhiên, nếu Trung Nam Hải muốn "rung cây", không rõ các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể tìm thấy những đánh giá độc lập với PLA ở đâu. Điều này mang đến một sức mạnh rất lớn cho PLA - ngay cả khi không hề chủ định - khiến họ có tể che giấu những gì họ đang làm trên thực tế và ảnh hưởng toàn diện của những hành động đó ra sao nếu không thâm nhập giám sát.

    Các nhà quan sát thường chỉ vào vụ thử tên lửa đạn đạo năm 2007 như một dấu hiệu cho thấy quá trình hoạch định chính sách của tq thiếu sự phối hợp. Một số cho rằng giới lãnh đạo dân sự cấp cao đã không được thông tin - hay không nắm thông tin đầy đủ. Nhưng chuyện gì xảy ra nếu PLA chỉ trình Hồ Cẩm Đào một sổ ghi nhớ đề nghị "Chúng tôi có thể tiếp tục với kế hoạch thử nghiệm chương trình X thí điểm hay không?" Các quan chức có thể che giấu thông tin quan trọng trừ khi có ai đó nhiều thời gian và công sức tìm hiểu ý nghĩa đẩy đủ của nó. Và ở thời điểm đó, Hồ Cẩm Đào là cá nhân dân sự duy nhất có thẩm quyền trên PLA.

    Ảnh hưởng của PLA đang lớn dần lên vì một số nguyên nhân. Chưa kể đến những cá nhân liên quan, PLA đang ở vào vị thế rất tốt để đòi hỏi lợi ích và quan điểm của mình trong bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu một tiếng nói chung của tổ chức về chính trị đảng phái và chính sách quốc gia - chứ không chỉ lợi ích vật chất của PLA và phương thức bảo vệ lợi ích - và liệu tiếng nói đó có thống nhất trong những giới quân sự khác nhau hay không.

    Ngay cả khi PLA có tiếng nói lớn hơn trong chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Trung Quốc, những gì PLA nói ra cũng rất không rõ ràng. Đối phó với những thách thức về hiện đại hóa nhiều khả năng vẫn khiến PLA tập trung hơn vào nội bộ và có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy PLA đã có những nỗ lực quyết tâm để tự đánh giá. Hội đồng quân sự trung ương do chủ tịch Hồ Cẩm Đào dẫn dầu đã thông qua bản đánh giá quan trọng nhất, được biết đến là "Hai không tương xứng", - năng lực PLA không tương xứng với việc giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh trong điều kiện thông tin hiện nay và không tương xứng với việc hoàn thành các sứ mệnh lịch sử của PLA. Điều đó nghe có vẻ không mang tính hiếu chiến nhưng, liên tục khiến giới lãnh đạo phải hành động.

    Mối quan ngại thực sự là liệu các nhà lãnh đạo dân sự có trải nghiệm tri thức hay khả năng dựa vào những tri thức quân sự ngoài PLA để quản lý vai trò và ảnh hưởng ngày một lớn của PLA. Vấn đề này ở mức độ nào đó các nhà hoạch định dân sự của Trung quốc, đặc biệt là Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình, có hiểu đầy đủ được năng lực và hạn chế của PLA hay không và những lựa chọn được cơ quan này đưa ra - và cách hiểu của họ ảnh hưởng ra sao tới quyết định chiến tranh và hòa bình.

    Đình Ngân theo the diplomat

    http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/80816/quan-su-trung-quoc-manh-co-nao-.html


    Ap Luc @ 22:08 17/07/2012
    Số lượt xem: 2385
    No_avatar

    “Con ngựa thành Tơ-roa” để mưu đồ độc chiếm Biển Đông"

    Bài này của ông Lê Đức Tlà viết đăng vào ngày 20/7

    http://daidoanket.vn/index.aspx?chitiet=53068&menu=1427&style=1

    Không biết ý tưởng con ngựa thành Tơ roa là của ai !!!  raised eyebrows

     

    215461

    Người Khổng Lồ, con búp bê và cuộc chiến biên giới

     

    BBC- Chuyên đề 30 năm chiến tranh biên giới Việt Trung
    Tuesday,February 17, 2009

     

     

                                                                               (Ảnh gia đình 1978. Tôi tóc ngắn, đeo nơ)

     

    Khoảng hè thu năm 1978, tôi còn bé lắm, chưa vào vỡ lòng. Cha mẹ tôi là cán bộ ở một nhà máy hóa chất vào loại lớn nhất miền Bắc lúc đó, cha tôi làm Phó Ban Kiến thiết cơ bản, mẹ làm việc trong phòng Hóa nghiệm. Phòng làm việc của cha mẹ tôi đều có tấm ảnh Bác Hồ và Mao Chủ tịch tươi cười bắt tay nhau.
    Cộng sự của cha mẹ tôi phần nhiều là chuyên gia Trung Quốc. Họ nói tiếng Việt khá rành, thường ghé về nhà tôi ăn cơm, uống bia, rủ cha tôi chơi bóng… Trong số họ có một ông cao ngất ngư, trẻ con rất thích gọi là bác Hiền Khổng Lồ. Bác Hiền Khổng Lồ, tóc dài râu rậm, cao hơn cha tôi một cái đầu, chơi bóng bàn rất “mả”, đánh vợt dọc, cứ thoi quả gần quả xa khiến cha tôi (cây vợt từng vô địch tỉnh Phú Thọ) chạy bở hơi tai.
    Mỗi lần Người Khổng Lồ tới là bọn trẻ con hét tướng “Hảo su cù, lăng lủng trẻo” (củ su hào treo lủng lẳng), rồi ngoan ngoãn xếp hàng chờ đến lượt được bế bổng lên cao. Mỗi lần Người Khổng Lồ ra sân bóng chuyền thì đội bên kia nghiễm nhiên được chấp 10 trái mà vẫn thua đứt. Người Khổng Lồ uống bia không biết say, chỉ bế bổng tôi lên đùi rồi dụi cái cằm đầy những râu vào cổ vào ngực làm tôi nhột nhạt kinh khủng. Cứ vài hôm không thấy Người Khổng Lồ là tôi lại nhớ…

     

    Đoàn chuyên gia còn có A Tuấn, béo lùn, bàn tay như nải chuối mắn, cứ tủm tỉm cười rồi ngây thuỗn ra mỗi khi cô Hoa lên hát “Việt Nam – Trung Hoa núi liền núi sông liền sông”. Nghe nói cô Hoa cũng phải lòng A Tuấn, mà đoàn thể chưa cho. Tối nào A Tuấn đến nhà tôi cũng phải hối lộ tôi mấy cái kẹo để đi gọi cô Hoa sang chơi. Cô Hoa phụ mẹ tôi đan len, A Tuấn ngồi bên lặng thinh cả buổi.

     

    Mọi chuyện cứ thế cho đến ngày tôi theo mẹ đi trực đêm trong nhà máy. Nửa đêm hoảng hốt choàng dậy vì tiếng rú nhức nhối. Tiếng ù ù rất lạ. Tiếng giầy đinh lộp cộp nện trên nền đá. Mẹ ôm chặt tôi, nín thở nhìn qua khe vách. Sân bóng chuyền 2 con chim sắt to kềnh và mấy ông mặc quần áo nhà binh, nai nịt sung ống, mặt đằng đằng sát khí. Tôi lạnh cứng cả người.

     

    Họ xếp hàng, đếm đầu rồi lùa đoàn chuyên gia lên máy bay. Không một tiếng nói. Cả đoàn cun cút lên gần hết, chỉ còn Người Khổng Lồ tần ngần ngoái lại nhìn cánh cửa phòng làm việc của mẹ tôi trước khi tấm lưng gấu của bác bị   đẩy thô bạo vào trong. Hai con chim sắt gầm rú rồi bay đi, mang theo Người Khổng Lồ của tôi.

     

    Thế là từ đó không ai nhìn thấy đoàn chuyên gia đâu nữa. Bí mật của tôi như viên ngọc quá bự giữa một đám thảo khấu quá đông và quá tò mò.

     

    Những ngày sau đó cánh đàn ông trong cơ quan cha tôi chiều nào cũng tập tự vệ, ôm súng lên nòng roănh roách đến nửa khuya. Mẹ tôi và mấy cô trong tổ lăng xăng đun nước, chép tài liệu… Những tấm ảnh Bác Hồ và Bác Mao bị gỡ xuống trong giận dữ. Tôi ngây thơ “ước gì hai Bác chưa chết”.

     

    Trẻ con nhanh chóng thuộc bài hát mới không ngừng vang trên sóng phát thanh:
    Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới/Gọi toàn quân ta vào trận chiến đấu mới/ Quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh, đã giày xéo mảnh đất tiền phương/ Lửa đã cháy và máu đã đổ/ Trên khắp dải biên cương…

     

    Cho đến một buổi sáng, cả nhà máy nháo nhác vì phát hiện một thi thể đen sì trong ống khói. Người lớn thì thào bảo A Tuấn không chịu đi, trốn vào ống khói, ngã xuống mắc kẹt luôn ở đó. Lại có người nói A Tuấn không chịu đi nên bị người Tàu giết, bỏ vào ông khói phi tang. Có người bào A Tuấn được cài lại làm gián điệp phá hoại nhà máy, đến lúc bị phát hiện uống thuốc tự vẫn… Cô Hoa khóc ngất, lăn vào rồi lại bị kéo ra, mặt mũi chân tay cô đen sì bồ hóng. Lúc đó mọi người mới để ý, bụng của cô đã lùm lùm bằng cái bát úp!

     

    Người lớn bảo tất cả người Trung Quốc bây giờ thành kẻ thù hết. Cả cái thằng A Tuấn này cũng là giặc rồi!

     

    Tôi chạy ra sau nhà giấu nước mắt. Tôi tưởng tượng Người Khổng Lồ của tôi nằm đó, cháy đen, co quắp trong đống bồ bóng. Đêm đó, tôi mơ ông cầm súng gí vào đầu mẹ tôi, cái đầu ông cạo trắng hếu, cằm nhẵn thín. Rồi ông lấy dao xẻ thịt mẹ ra từng miếng, tươi cười đưa cho tôi. ..

     

    Bao nhiêu kẹo nhóm chuyên gia cho bọn tôi được lệnh phải đem nộp hết.

     

    Tôi lén giấu lại một con búp bê bằng len bé bằng ngón tay út, chôn xuống bãi cỏ sau nhà.

     

    Một thời gian ngắn sau đó, gia đình tôi chuyển về vùng núi Hoa Lư, Ninh Bình, cha mẹ tôi lại bắt đầu gầy dựng một khu công nghiệp hóa chất mới cùng các chuyên gia Liên Xô. Không nghe ai nhắc về cô Hoa nữa.

     

    30 năm rồi, con búp bê bỏ quên chắc đã thành cát bụi.

     

    Người Khổng Lổ của tôi còn sống hay đã chết, mà chưa từng một lần trở lại trong giấc mơ thơ bé của tôi?

     

    Sài Gòn17/2/2009

     

    PHẠM TƯỜNG VÂN

    http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/nguoi-khong-lo-con-bup-be-va-cuoc-chien-bien-gioi.html

    215461

    Mưu đồ độc chiếm Biển Đông của TQ bất chấp lịch sử

    Đã có nhiều sự kiện, bằng chứng được ghi nhận trong sách vở Trung Hoa và Việt Nam chứng tỏ cương giới cực nam của Trung Hoa đến đầu thế kỷ XX chỉ ở bờ biển phía nam đảo Hải Nam. Các quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa không thuộc lãnh thổ Trung Hoa. Trong thời gian đó, nhà nước phong kiến Việt Nam đã làm chủ thực sự và tổ chức đội Hoàng Sa đi khai thác hai quần đảo của mình từ thế kỷ XVI.

    Điều này càng cho thấy mưu đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là ngang ngược, bất chấp những giá trị có tính lịch sử mà họ thường rêu rao qua những chứng lý giả tạo để đánh lừa dư luận.

    Biên giới Trung Quốc chỉ đến Hải Nam

    Cho đến đời Hán (206 trước Công nguyên), đảo Hải Nam do người Lê (hay Ly), một tộc Việt trong Bách Việt, làm chủ nhưng bị người Trung Hoa ở Quảng Đông chinh phục. Đây có thể coi là bước đầu tiến xuống Biển Đông của những triều đại Trung Hoa. Các chính quyền phong kiến kế tiếp nhau đưa người Hoa đến định cư ở vùng ven bờ đảo Hải Nam, dồn người Lê vào vùng rừng núi ở sâu bên trong đảo. Không cam chịu cảnh áp bức bóc lột, các bộ lạc người Lê vùng lên khởi nghĩa nhưng bị đàn áp dữ dội nên đều thất bại. Một điều đáng chú ý là ở đảo Hải Nam có dân Lê (Ly) thì ở Thanh Hóa cũng có dân Ly. Năm 1905, ông E. Brerault khảo sát đảo Hải Nam thấy có "người Việt ở bờ biển phía nam đảo Hải Nam". Đó chính là người Lê (Ly) ở ven biển.

    Trong vòng 19 thế kỷ tiếp theo, các chính quyền phong kiến Trung Quốc tiếp tục cho di dân đến và áp dụng chính sách đồng hóa để biến Hải Nam thành lãnh thổ của mình.

    Thế nhưng sự cách biệt với nền văn hóa lục địa, nạn cướp biển ven bờ, bệnh sốt rét ác tính cùng với sự nổi dậy thường xuyên của các bộ lạc bản xứ đã ngăn cản chính quyền Trung Hoa đưa dân đến đây định cư với quy mô lớn. Hơn nữa, khí hậu nhiệt đới khác xa với đại lục, không thích hợp với kinh tế của người Hoa cũng là nguyên nhân làm cho nền kinh tế trên đảo chậm phát triển và người Hoa không muốn định cư ở đây. Những nguyên nhân khách quan này cản trở chính sách tiến xuống Biển Đông của các triều đại Trung Hoa. Vì vậy, đến những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các chính quyền Trung Hoa đều coi lãnh thổ của mình chỉ bao gồm từ đảo Hải Nam trở lên phía bắc.

     

    Ảnh TTXVN

    Trong cuốn Phủ biên Tạp lụcdo nhà bác học Lê Quý Đôn viết năm 1776 đã ghi lại một sự việc rất quan trọng về mặt sử liệu: Năm 1754, thuyền của đội Hoàng Sa do Chúa Nguyễn phái ra khai thác Hoàng Sa bị đứt dây neo, trôi dạt vào cảng Thanh Lan thuộc đảo Hải Nam. Các quan sở tại đã tra xét những người ở trên thuyền, khi biết là người của đội Hoàng Sa của Việt Nam, đã chu cấp tiền, gạo cho về quê mà không hề phản đối gì. Chúa Nguyễn sau đó đã sai người viết thư cảm ơn.

    Có thể dẫn chứng thêm qua nhiều sách báo phương Tây ghi lại sự kiện khoảng năm 1895, 1896 tàu Bellona của Đức và tàu Ymedi Maru của Nhật chở hàng cho Anh bị đắm ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, cách đảo Hải Nam 140 hải lý về phía nam. Người Trung Hoa ở đảo Hải Nam đã ra lấy trộm đồng trên tàu. Lãnh sự Anh ở Hải Nam phản đối với nhà đương cục Trung Hoa và nhận câu trả lời rằng Hoàng Sa không thuộc Trung Hoa do đó nước này không có trách nhiệm gì ở đấy.

    Không những thế, hàng loạt tài liệu, bản đồ chính thức và bán chính thức của Trung Hoa cho đến đầu thế kỷ XX đều chỉ vẽ lãnh thổ Trung Hoa đến đảo Hải Nam. "Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ" (xuất bản năm 1894), "Đại Thanh đế quốc toàn đồ" (xuất bản 1905, tái bản 1910) đều thể hiện rõ ràng điểm cực nam của Trung Hoa ở bờ nam đảo Hải Nam, đồng thời quyển Trung Quốc Địa lý Giáo khoa thư (xuất bản 1906) ghi rõ: Điểm cực nam Trung Hoa là Châu Nhai, Quỳnh Châu (tức Hải Nam). Sợ không chính xác, cuốn sách này còn nói rõ thêm: điểm cực nam đó ở vĩ tuyến 18º13' bắc.

    Từ năm 1909, Trung Hoa mới bộc lộ tham vọng trên Biển Đông. Theo lệnh Tổng đốc Lưỡng Quảng, Đô đốc Lý Chuẩn đem một số pháo thuyền nhỏ đến một vài đảo của Hoàng Sa dù khi đó quần đảo này đã do Việt Nam làm chủ, bắn vài phát súng rồi vội vã rút lui. Có thể nói mưu đồ bá quyền của Trung Hoa bắt đầu lộ rõ trong Công hàm ngày 29-9-1932 của đại diện Trung Hoa Dân Quốc tại Paris gửi Chính phủ Pháp nêu yêu sách rất vô lý về quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa): "Tây Sa là bộ phận lãnh thổ cực nam của Trung Hoa". Mặc dù ngang ngược như vậy nhưng với công hàm này, người Trung Hoa vẫn chưa hề yêu sách đối với Trường Sa.

    Những dữ kiện nói trên càng chứng tỏ lập luận "Trung Quốc có chủ quyền từ lâu đời" trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không có cơ sở.

    Năm 1956, lợi dụng quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Sài Gòn chưa kịp ra thay thế ở Hoàng Sa, Trung Quốc bí mật đưa quân đổ bộ, chiếm đóng đảo Phú Lâm và Lincoln thuộc nhóm phía đông của quần đảo Hoàng Sa.

    Tháng 1-1974, sau khi ký Thông cáo chung Thượng Hải và với sự làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc huy động lực lượng kết hợp hải quân, không quân đánh chiếm nhóm phía tây của Hoàng Sa.

    Đường lưỡi bò: sự hoang tưởng

    Sự kiện gây quan ngại nhiều nhất chính là việc ngày 7-5-2009 Trung Quốc chính thức yêu cầu Liên Hiệp Quốc lưu truyền trong cộng đồng các nước thành viên tấm bản đồ thể hiện đường lưỡi bò (còn gọi là đường chữ U hay đường đứt khúc chín đoạn) trên Biển Đông, yêu sách không chỉ các đảo, đá mà toàn bộ vùng biển trong đó.

    Đường lưỡi bò bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Đông Sa và bãi Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước của Biển Đông, chỉ còn lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia,  Indonesia và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.

    Chỉ một ngày sau đó, Việt Nam, Malaysia và sau đó là Indonesia đã lập tức lên tiếng phản đối và bác bỏ. Tiếp theo, ngày
    5-4-2011 Philippines gửi thư ngoại giao lên  Liên Hiệp Quốc phản đối yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông đồng thời cho rằng tuyên bố chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc là "không có căn cứ theo luật quốc tế".

    Thực tế, theo các tác giả Trung Quốc, đường lưỡi bò lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ các đảo trong Biển Đông The Location Map of the South China Sea Islands do Fu Jiaojin, Wang Xiguang biên soạn và được Vụ Địa lý của Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân Quốc xuất bản vào năm 1947.

    Một số người khác còn cố đẩy thời gian xuất xứ của con đường này xa hơn nhằm mục đích giải thích có lợi cho Trung Quốc. Họ cho rằng đường này do một người tên là Hu Jinjie vẽ từ năm 1914 và đến tháng 12-1947, một viên chức người Trung Hoa tên là Bai Meichu vẽ lại đường này trong một bản đồ cá nhân để thể hiện cảm xúc của mình khi nghe tin về việc Pháp chiếm đóng các đảo Trường Sa năm 1933. Tuy nhiên, các tác giả Trung Quốc cũng phải khách quan thừa nhận "không rõ khi vẽ đường này Bai Meichu có đủ hiểu biết và kiến thức về luật biển quốc tế đương đại hay không?".

    Ngoài ra, Daniel Schaeffer - nguyên tùy viên quân sự Pháp tại Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan - trong "Biển Nam Trung Hoa: Những điều hoang tưởng và sự thật của đường lưỡi bò" và các nhà nghiên cứu nước ngoài khác cũng đều khẳng định rằng bản đồ đường lưỡi bò này xuất hiện trong một tập bản đồ tư nhân, chứ không phải của Nhà nước.

    Học giả Trung Quốc thừa nhận đường lưỡi bò không có căn cứ pháp lý

    Nhiều học giả Trung Quốc đã đặt lại vấn đề về cái gọi là "đường lưỡi bò" và cách hành xử của Trung Quốc.

    Tại hội thảo liên quan đến tranh chấp Biển Đông ngày 14-6-2012 do Viện nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc và báo điện tử
    Sina.com tổ chức, nhà nghiên cứu Lý Lệnh Hoa thuộc Trung tâm Tin tức Hải dương Trung Quốc, nói rằng "Chúng ta vẽ đường chín đoạn mà không có một kinh độ hoặc vĩ độ cụ thể, và cũng không có căn cứ pháp luật... Đường lưỡi bò (chiếm gần 80% Biển Đông) là do Trung Quốc tự vẽ ra năm 1974".

    Giáo sư Hà Quang Hộ, Học viện triết học thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc phê phán: "Là con người phải biết giữ nhân tình. Chúng ta đều là người, không phải là dã thú sống trong rừng rậm. Trong quan hệ giữa người với người, không chỉ biết yêu bản thân mà nhất định phải tính cả đến lợi ích của người khác... Nếu ý nghĩa của cái gọi là đường chín đoạn là đường biên giới quốc gia được vẽ sát vào bờ biển Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei như thế, tôi không tin những quốc gia đó có thể chấp nhận. Nếu Nam Hải (tức Biển Đông) được vẽ thành "biển nhà" của Trung Quốc như vậy, các nước khác có nhu cầu vận tải trên biển cũng không thể chấp nhận, và như thế sẽ trở thành tranh chấp mãi mãi. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà mọi người dựa vào nhau để tồn tại. Chúng ta muốn sống thì cũng phải để người khác sống chứ".

    Còn Giáo sư Trương Thự Quang, Đại học Tứ Xuyên, thì nhấn mạnh không thể tự vẽ ra đường lưỡi bò: "Quyền lợi của Trung Quốc cần được người khác thừa nhận, người khác không thừa nhận thì Trung Quốc không có quyền".

    Giáo sư Trương Kỳ Phạm, Học viện Pháp luật - Đại học Bắc Kinh, tỏ ra gay gắt hơn khi nói thẳng: "Tôi rất không đồng tình với kiểu hành xử chính trị quốc tế theo luật rừng. Cần giải quyết theo luật quốc tế và theo Luật Biển".

    Còn nhớ, hồi tháng 11 năm ngoái, tại một hội thảo diễn ra tại Washington (Mỹ) do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế của Hoa Kỳ (CSIS) tổ chức với sự tham dự của hơn 150 học giả, nhà nghiên cứu, nhà báo đến từ nhiều nước, các học giả và chuyên gia quốc tế đã phản bác các lập luận của Trung Quốc về chủ quyền đường lưỡi bò trên Biển Đông.

    Bà Caitlyn Antrim - Giám đốc Ủy ban Pháp quyền đại dương của Mỹ - khẳng định, tuyên bố đường lưỡi bò không có cơ sở theo luật quốc tế bởi cơ sở lịch sử là rất yếu và rất khó bảo vệ. Bà Antrim nói: "Tôi không hiểu Trung Quốc tuyên bố cái gì trong đường lưỡi bò đó. Nếu họ tuyên bố chủ quyền với các đảo do đường ấy bao quanh, thì câu hỏi đặt ra là họ có chứng minh được chủ quyền với các đảo đó hay không. Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu, thậm chí không có giá trị theo luật pháp quốc tế".

    Những chứng cứ trên đây chỉ là một phần rất nhỏ trong vô số tư liệu lịch sử vạch trần tham vọng bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Điều này giải thích tại sao Trung Quốc luôn né tránh đem vấn đề tranh chấp trên Biển Đông ra phân xử trước các định chế quốc tế.

    Theo Nguyễn Nam/ DNSG cuối tuần

    http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/81471/muu-do-doc-chiem-bien-dong-cua-tq-bat-chap-lich-su.html

    215461

    Trung Quốc với tham vọng bá chiếm tài nguyên biển

    Để duy trì vị thế chính trị đang lên trên trường quốc tế, Bắc Kinh phải đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế như trong thời gian vừa qua. Điều này đòi hỏi một lượng tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, Trung Quốc phải vươn ra biển. Dưới đây là bài viết của nhà nghiên cứu Kailash K. Prasad, thuộc Nhóm chính sách Dehli (Dehli Policy Group) đăng trên The National Interest số ra ngày 6/7 vừa qua.

    Đảng cộng sản Trung Quốc (CCP) đã giành được uy tín lớn từ việc đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách vượt bậc. Sự phát triển nhanh chóng này dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, những người đánh giá cao thành tựu của CCP cũng không thể không tính đến sự đảm bảo một dây chuyền cung cấp năng lượng để duy trì vị thế chính trị hiện đang lên cao nhất như hiện nay. Và điều này dẫn đến việc Bắc Kinh đã yêu cầu lượng dầu mỏ, kim loại và khoáng sản nhiều hơn số lượng mà họ hiện sở hữu, khiến quốc gia này phải ôm tham vọng vươn ra biển xa.

    Vì Trung Quốc xây dựng tổ hợp kinh tế có lợi ích chiến lược tại châu Phi và Trung Đông do vậy vấn đề tự do của ngành hàng hải thông qua Ấn Độ Dương và nhiều nơi tại Thái Bình Dương sẽ là mối quan tâm lớn nhất của Bắc Kinh. Không có gì là ngạc nhiên khi nước này lo lắng về việc chia sẻ trách nhiệm an ninh hàng hải gần biên giới với họ.

    Khi xem xét đến sức mạnh tương đối của đội tuần tra biển, chủ yếu là sự tham gia của Nhật và Mỹ, Trung Quốc lo ngại rằng trong thời điểm khủng hoảng việc tiếp cận đường vận tải biển quan trọng sẽ bị ngăn chặn. Hoặc tồi tệ hơn Bắc Kinh có thể buộc phải thỏa hiệp về mặt chủ quyền đối với những khu vực mở rộng mà lịch sử cho rằng đã có từ trước nhưng chưa  được luật pháp quốc tế cho phép.

    Trước đây, Trung Quốc đã nỗ lực hết sức để thực hiện tham vọng có thể thống trị vùng biển. Xét tương quan lực lượng hiện có trên vùng biển trên ta thấy. Tổng trọng lượng của hạm đội tàu lớn nhất thế giới gồm 21 chiếc là 6,75 triệu tấn. Trừ trọng tải đội tàu của Mỹ thì đội tàu còn lại của thế giới chiếm 46% và rơi vào khoảng 3,63 triệu tấn. Nếu tính về trọng lượng cũng như số lượng, thì số tàu Mỹ hiện có cũng không hẳn đã vượt trội. Trên thực tế, sau 3 thập kỷ hiện đại hóa ngành hàng hải một số tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo và có khả năng tấn công bằng vũ khí hạt nhân của Trung Quốc còn lạc hậu hơn so với của các tàu khác trên thế giới. Họ mới đang học cách sử dụng tên lửa đạn đạo chống tàu ngầm (ASBM). Chỉ có hệ thống ASBM mới mang lại cho Trung quốc khả năng cạnh tranh.

    Báo cáo của Bộ quốc phong Mỹ cho biết phạm vi hoạt động của tên lửa này có thể bay xa 1.000 dặm (1 dặm bằng 1,6 km). Ngay cả khi máy bay chiến đấu trang bị cho hải quân thế hệ mới không thể quay trở lại tàu sâu bay nếu chúng được phóng xa hơn so với mục tiêu ban đầu là 600 dặm thì vẫn có thể ngăn chặn sự tiếp cận của đối phương từ bờ biển phía Tây Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong tương lai gần, tham vọng vươn ra biển xanh dường như không thể đạt được. Một tàu sân bay vừa được nâng cấp từ thời kỳ Liên xô cũ, vài tên lửa đạn đạo chống tàu ngầm và một vài tàu ngầm hạt nhân sẽ không cho phép Lực lượng hải quân quân đội giải phóng nhân dân (PLAN) tiến hành diễn tập ngoài khơi bờ biển nước này, thậm chí ngay khi thủy thủ Trung Quốc có thể điều khiển được con tàu mới của họ.

    Phần lớn hoạt động của PLAN là ngăn chặn sớm nên tác động chủ yếu của nó là mang lại lợi ích cho đất liền. Hạm đội tàu lớn nhất là Song, Ming và Romeo đều là tàu ngầm hoạt động bằng động cơ điện điêden, bến tầu tiếp đất và vũ khí tầm ngắn khác cũng như vũ khí được trang bị trên bờ sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn của các quốc gia lân cận đặc biệt là vũ khí tương thích hơn với Trung Quốc và Mỹ.

    Trung Quốc cũng rất mong muốn các quốc gia láng giềng chung đường biển đi theo chiến lược hiện đại hóa hải quân. Sự ủng hộ như vậy là rất cần thiết sau khi có sự tổn thất rõ ràng ở Burma- vốn là  hành lang năng lượng thay thế của Trung Quốc và điều này làm cho một số người ở bắc kinh suy nghĩ một cách thận trọng về việc thiết lập mối quan hệ tinh tế, và "xa xỉ" để đảm bảo cho nguồn tài nguyên của mình.

    Nếu Trung Quốc có thiên hướng về việc tiếp tục chạy đua vũ trang theo kiểu sự kiện đã nhận thấy trên đảo Scarborough phần nhiều sẽ khó có thể thúc đẩy được tham vọng về mặt hải quân của mình. Lực lượng ở xa hơn như Ấn Độ và Ôxtrâylia phải đối mặt với lực lượng PLAN được trang bị nhiều hơn. Lời hùng biện từ Trung Quốc sẽ cung cấp một ít sự bảo đảm.  Nhật Bản và Hàn Quốc cũng nhận ra rằng tốt hơn là họ nên cân bằng sự đối trọng với năng lực đang phát triển của Trung Quốc về hải quân thay cho việc các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh sẽ không hành động theo sự bất mãn của họ trên thực tế. Ôxtrâylia cũng bắt đầu giai đoạn hiện đại hóa tàu ngầm với trị giá lên đến 40 tỷ USD. Ấn Độ gần đây cũng đã nhận đợt giao hàng 1 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân mang tên Akula của Nga và hiện cũng đang xây dựng tàu ngầm bằng năng lượng hạt nhân của chính nó và tàu sân bay khác. Nhật Bản đang khuếch trương  hạm đội tàu ngầm lần đầu tiên trong 36 năm qua. Hàn Quốc cũng đang hiện đại hóa lực lượng hải quân và lục quân của họ.

    Cái giá của việc tính toán sai lầm là rất cao và nó cũng rất khó để nhận ra môi trường như vậy sẽ không có lợi cho Trung Quốc. Về mặt hình thức, lực lượng hải quân mạnh sẽ cho phép Bắc Kinh giảm gánh nặng trong việc chạy đua. Tuy nhiên, nếu việc hiện đại hóa hải quân của Trung Quốc buộc các nước trong khu vực cũng phải hiện đại hóa và nếu một số nước làng giềng mạnh hơn trong khu vực có khả năng sánh kịp Trung Quốc thì rất khó để nhận thấy lợi thế của PLAN trong việc đạt được mục tiêu dài hạn và sự thống trị ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương khó có thể đạt được. Bất kể sự thua kém nào của Trung Quốc sẽ khiến Bắc Kinh dễ tổn thương và bị cô lập hơn với một sân sau đầy sự nghi ngờ và cạnh tranh./.

    Hằng Linh theo The National Interest

    http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/81475/trung-quoc-voi-tham-vong-ba-chiem-tai-nguyen-bien.html

    No_avatar
    Biển Đông: Phản tỉnh từ trí thức Trung Quốc

     

    Cập nhật lúc :4:10 PM, 24/07/2012

     

    (ĐVO) Sự ngang ngược và bất chấp đạo lý, pháp lý của Trung Quốc đối với các vấn đề trên Biển Đông khiến ngay cả nhiều học giả và trí thức nước này “không thể chấp nhận”.

    Những nhát dao cắt đứt “đường lưỡi bò”

    Việc Trung Quốc đưa ra cái gọi là “đường lưỡi bò” hay “đường chín đoạn” ôm trọn gần như toàn bộ Biển Đông, áp sát vào nhiều nước khu vực Đông Nam Á, và tự nhận thuộc chủ quyền của mình đã bị dư luận quốc tế không thừa nhận, lên án và phản đối mạnh mẽ.

    Không chỉ các nước bị ảnh hưởng và cộng đồng quốc tế phản đối, nhiều học giả Trung Quốc cũng lên tiếng bác bỏ “đường lưỡi bò” phi lý, cũng như cách hành xử theo kiểu “luật rừng” của chính quyền Trung Quốc.

    Tại hội thảo “Tranh chấp biển Đông: chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế” ngày 14/6 do Viện nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc và báo điện tử Sina.com tổ chức, nhiều học giả Trung Quốc đã đặt lại vấn đề về cái gọi là “đường chín đoạn“ và cách hành xử của Trung Quốc.

    "Đường chín đoạn" do Trung Quốc đưa ra không được quốc tế thừa nhận và bị chính các học giả trong nước phản đối.

    Nhấn mạnh sự vô lý của “đường lưỡi bò”, nhà nghiên cứu Lý Lệnh Hoa, thuộc Trung tâm Tin tức hải dương Trung Quốc, cho rằng: “Chúng ta vẽ đường chín đoạn mà không có một kinh độ hoặc vĩ độ cụ thể, và cũng không có căn cứ pháp luật.” Nhà nghiên cứu này cũng khẳng định: “Đường chín đoạn (chiếm gần 80% biển Đông) là do Trung Quốc tự vẽ ra năm 1974”.

    Đồng tình với quan điểm trên, Giáo sư Trương Thự Quang, Đại học Tứ Xuyên, nhấn mạnh rằng Trung Quốc không thể tự vẽ ra đường chín đoạn. Theo giáo sư Trương, khi Trung Quốc khăng khăng đưa ra “đường lưỡi bò” nhưng không có căn cứ để khẳng định và không được bất kỳ nước nào thừa nhận thì nó vô giá trị: “Quyền lợi của anh (Trung Quốc) cần được người khác thừa nhận, người khác không thừa nhận thì anh không có quyền”.

    Trước thái độ và cách hành xử ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông thời gian gần đây, nhiều học giả tham dự hội thảo tỏ rõ sự bất bình và không đồng tình.

    Giáo sư Hà Quang Hộ, Học viện triết học thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc, cho rằng: “Là con người phải biết giữ nhân tình. Chúng ta đều là người, không phải là dã thú sống trong rừng rậm. Trong quan hệ giữa người với người, không chỉ biết yêu bản thân mà nhất định phải tính cả đến lợi ích của người khác...”.

    Nói về “đường chín đoạn”, giáo sư Hà Quang Hộ phân tích: “Nếu ý nghĩa của cái gọi là đường chín đoạn là đường biên giới quốc gia được vẽ sát vào bờ biển Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei như thế, tôi không tin những quốc gia đó có thể chấp nhận. Nếu Nam Hải (Biển Đông) được vẽ thành “biển nhà” (của Trung Quốc) như vậy, các nước khác có nhu cầu vận tải trên biển cũng không thể chấp nhận, và như thế sẽ trở thành tranh chấp mãi mãi. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà mọi người dựa vào nhau để tồn tại. Chúng ta muốn sống thì cũng phải để người khác sống chứ”.

    Cho rằng Trung Quốc đang hành xử theo “luật rừng”, bắt chấp các quy tắc và luật pháp quốc tế, Giáo sư Trương Kỳ Phạm, Học viện Pháp luật, Đại học Bắc Kinh, tỏ ra bức xúc: “Tôi rất không đồng tình với kiểu hành xử chính trị quốc tế theo luật rừng. Cần giải quyết theo Luật quốc tế và theo Luật biển”.

    Khẳng định rằng, chính người Trung Quốc cũng phải thừa nhận sự phi lý của “đường lưỡi bò”, biên tập viên Tân Hoa xã Chu Phương, người nổi tiếng có quan điểm thẳng thắn trong làng báo Trung Quốc, đã nhấn mạnh trong một bài viết: “Từ nhỏ chúng ta đã được nhìn thấy tấm bản đồ Nam Hải (Biển Đông). Một đường biên giới đứt đoạn rất thô màu hồng đưa toàn bộ Nam Hải vào bản đồ Trung Quốc. Ngày nay chúng ta biết sự thực không phải như vậy! Đường biên giới quốc gia ấy không những các nước láng giềng và quốc tế không công nhận, mà ngay các học giả Trung Quốc cũng không lý giải nổi”.

    Cái gọi là “thành phố Tam Sa” biến Trung Quốc thành trò cười cho quốc tế

    Được xem là hành động trả đũa việc Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển, Trung Quốc đã quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, và đang tiến hành bầu Hội đồng nhân dân tại đây. Hành động này là sự xâm phạm trắng trợn chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Gần đây khi tình hình Biển Đông căng thẳng, biên tập viên Tân Hoa xã Chu Phương, người có uy tín và nổi tiếng thẳng thắn trong làng báo Trung Quốc (đã nhắc ở trên), đã nhiều lần phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông và yêu cầu xóa bỏ cái gọi là “thành phố Tam Sa” mà Bắc Kinh vừa dựng lên.

    Ngày 17/7, ông Chu Phương cho đăng bài viết “Hiện trạng Nam Hải (Biển Đông) có lẽ sẽ kéo lùi cải cách chính trị của Trung Quốc”. Trong đó ông viết: “Ý nghĩa lớn nhất của việc lập ra “thành phố Tam Sa” là chường cho bàn dân thiên hạ thấy nỗi nhục của Trung Quốc; đồng thời cũng sẽ buộc chính phủ và quân đội Trung Quốc phải giở bài ngửa với các quốc gia xung quanh và quốc tế...”.

    Trước đó, ngày 29/6, Chu Phương viết bài: “Thiết lập “thành phố Tam Sa” là trò cười quốc tế, mạnh mẽ yêu cầu hủy bỏ ngay!”. Bài viết này đã được nhiều diễn đàn mạng đăng lại.

    Biên tập viên Tân Hoa xã Chu Phương mạnh mẽ phản đối và yêu cầu xóa bỏ cái gọi là "thành phố Tam Sa".

    Chu Phương viết: “Nhiều người dân nước ta đến giờ vẫn không hiểu Nga tại sao lại lần đầu tiên tham gia cuộc diễn tập quân sự lớn Thái Bình Dương do Mỹ chủ đạo. Kỳ thực, đó chính là sự phản ứng mạnh mẽ của quốc tế trước hành động thiết lập “thành phố Tam Sa” đi ngược lại luật quốc tế và vô trách nhiệm của Trung Quốc”.

    Về việc chính phủ Trung Quốc vội vàng tuyên bố lập ra cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm toàn bộ vùng biển trong “Đường biên giới 9 đoạn” mà họ tự vạch ra một cách vô căn cứ, Chu Phương thẳng thắn bày tỏ quan điểm: “Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông, khiến cả quốc tế chê cười những nhà quyết sách Trung Quốc thiếu kiến thức về luật quốc tế muốn thông qua việc thiết lập “thành phố”, ngang nhiên đưa vùng biển quốc tế vào lãnh hải của nước mình”.

    Chu Phương nhấn mạnh: “Hành động này không chỉ đi ngược lại luật pháp và tập quán quốc tế, mà cũng trái với những quy định pháp luật của chính Trung Quốc về việc thành lập thành phố, càng đi ngược lại quốc sách và chiến lược phát triển hòa bình phù hợp mà Trung Quốc cần có”.

    Biên tập viên họ Chu khẳng định những hành động gần đây của Trung Quốc trên Biển Đông chỉ làm “tình hình xấu thêm, tăng căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước xung quanh”.

    Chu Phương phân tích: Việc thiết lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” là “một trò cười quốc tế điển hình”, làm “tổn hại nghiêm trọng hình ảnh và uy tín của Trung Quốc trên trường quốc tế”. Nghiêm trọng hơn, “Hành động sai lầm nguy hiểm vô trách nhiệm của một số người trong việc thiết lập “thành phố Tam Sa”đang đẩy nhân dân Trung Quốc sa vào miệng hố chiến tranh, biến Trung Quốc thành “cô nhi thế giới”. Nhân dân Trung Quốc cần hòa bình, không cần chiến tranh…”.

    Cho rằng, “trong việc giải quyết công việc quốc tế, Trung Quốc cần phải học cách tuân theo quy tắc trò chơi đã được cả quốc tế công nhận, tránh một mình một kiểu, mình khen mình hay”, Chu Phương mạnh mẽ kêu gọi: hãy lập tức hủy bỏ “thành phố Tam Sa”, triển khai sớm nhất có thể được việc đối thoại mang tính xây dựng với các nước xung quanh Nam Hải (Biển Đông), dốc sức cho việc làm dịu tình hình căng thẳng ở Nam Hải, loại bỏ nguy cơ chiến tranh, đưa Trung Quốc quay trở lại với đại gia đình quốc tế”.

    Chu Phương kết luận bài viết: “Thiết lập “thành phố Tam Sa” là hành động tự cô lập mình của Trung Quốc, là một sai lầm chiến lược to lớn cần phải nhanh chóng sửa chữa!”.

    Bài viết và những quan điểm đúng đắn, thẳng thắn của biên tập viên Chu Phương như “một cái tát” mạnh mẽ vào những luận điệu sai trái, xuyên tạc của một số tờ báo ở Trung Quốc khi viết về tình hình Biển Đông thời gian gần đây.

    http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Bien-Dong-Phan-tinh-tu-tri-thuc-Trung-Quoc/20127/224396.datviet

    215461
    Phát hiện 12 điểm chứa cổ vật tại Hoàng Sa
    Cập nhật lúc :8:47 AM, 31/07/2012
    Sau khi tiến hành khảo sát, các chuyên gia khảo cổ Trung Quốc đã phát hiện ra 12 địa điểm “chứa cổ vật văn hóa dưới nước” tại quần đảo Hoàng Sa trên biển Đông, Tân Hoa Xã đưa tin ngày 29/7.

    Theo giới truyền thông, đợt khảo sát này tổng cộng có 24 điểm, trong đó các nhà khảo cổ đã tiến hành phục tra 12 địa điểm cũ và phát hiện thêm 12 địa điểm mới có cổ vật.

    Ông Lê Cát Long, cán bộ Văn phòng văn hóa di sản tỉnh Hải Nam, Trung Quốc cho biết, đợt khảo cổ này đã thu thập được lượng lớn các mẫu vật gồm đồ gốm, sứ, đá neo, tiền xu và các bộ phận của tàu thuyền dưới đáy đại dương; thậm chí nêu rõ, các cổ vật này thuộc “thời Ngũ Đại, Tống, Nguyên, Minh, Thanh”.

    Phải chăng, chính phủ Trung Quốc đang cố tung bằng chứng trong khảo cổ học, nhằm khẳng định chủ quyền phi lý của mình từ thời cổ đại tại các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa Việt Nam?

     

    Một số cổ vật được tìm thấy dưới đáy biển gần quần đảo Hoàng Sa được Trung Quốc công bố. Ảnh: Chinadaily.

    Quần đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng, Việt Nam, gồm 40 đảo nhỏ, cồn cát và rặng san hô. Đây là tuyến giao thương đường biển quan trọng của quốc tế, cũng là kho tài nguyên thiên nhiên cực phong phú. Được biết, nhiều tàu buôn thời xưa đã va phải đá ngầm và bị đắm khi vận chuyển hàng đến Đông Nam Á, Ấn Độ hoặc Trung Đông, khiến đáy biển trở thành nơi lưu giữ lượng lớn cổ vật quý.

    http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Phat-hien-12-diem-chua-co-vat-tai-Hoang-Sa/20127/225511.datviet

    215461

    Điểm khởi đầu của cái gọi là 'đường lưỡi bò'

     

    Cập nhật lúc :11:31 AM, 01/08/2012

     

    Cần phải khẳng định một điều: cho đến năm 1945, cái gọi là “đường lưỡi bò” chưa hề xuất hiện trong bất cứ tấm bản đồ nào. Vậy nó ra đời lúc nào?

    Mơ hồ lai lịch “đường lưỡi bò”

    Về lai lịch “đường lưỡi bò” này, cho đến nay ngay chính những người Trung Quốc bản địa còn nhiều người đang rất mơ hồ về căn nguyên của nó. Nó được vẽ như thế nào, kỹ thuật đo vẽ khảo sát ra sao không ai nói chính xác được.

    Giới truyền thông, giới sử học, luật gia, chính trị và địa lý học của Trung Quốc mỗi người trình bày mỗi kiểu, thậm chí mâu thuẫn nhau. Đặc biệt, chưa có một tổ chức quốc tế nào công nhận tính hợp pháp của bản đồ này.

     

    Đây là con tàu Thái Bình chở Lâm Tuân và quan binh Trung Hoa Dân quốc xuống xâm chiếm đảo Ba Bình tháng 12/1946. Ảnh: news.ifeng

    Trong tác phẩm The Chinese U-shaped line in the South China sea: points, lines and zones, Giáo sư ĐH Minh Truyền của Đài Loan Du Kiếm Hồng cho rằng “đường chữ U” (cách người Đài Loan gọi “đường lưỡi bò”) là do một người vẽ bản đồ tư nhân tên Hồ Tấn Tiếp (Hu Jinjie) vẽ từ năm 1914 sau khi Trung Hoa giành lại đảo Đông Sa (Pratas) từ nhóm thương gia người Nhật năm 1909.

    Đường chữ U, theo cách mô tả của giáo sư Du, đó là một đường liên tục chạy từ biên giới đất liền của Trung Quốc vòng xuống bao lấy đảo Pratas (Đông Sa) và Hoàng Sa của Việt Nam, xuyên qua eo biển Đài Loan và dừng ở đường tiếp giáp giữa biển Hoa Đông và Hoàng Hải.

    Nếu nhìn vào lý luận của giáo sư Du Kiếm Hồng thì điểm cuối của đường chữ U chỉ nằm ở khoảng 16 độ vĩ chứ không kéo dài tận quần đảo Trường Sa như hiện nay. Song cho đến nay không một tài liệu nào của Trung Quốc lẫn Đài Loan nói rõ về gốc tích nhân vật Hồ Tấn Tiếp cũng như đường chữ U kiểu này.

    Thế nhưng, một số học giả Trung Quốc lại dẫn chứng trước bản đồ “11 đoạn” Trung Quốc còn các bản đồ được vẽ từ tháng 12/1934 và tháng 4/1935.

    Trên tờ Tri Thức Thế Giới tháng 9/2011, giáo sư ĐH Phúc Đán Trần Kim Minh đã hàm hồ lý giải rằng do lo sợ trước việc Pháp chiếm chín đảo ở quần đảo Trường Sa năm 1933, Chính phủ Trung Hoa dân quốc đã nhanh chóng lập “Ủy ban thẩm định bản đồ biển và đất liền” để thẩm định lại tên các đảo và bãi đá ở khu vực biển Đông bằng hai thứ tiếng Trung Quốc và Anh.

    Công việc thẩm định này hoàn tất vào ngày 21/12/1934 và bốn tháng sau đó đã chính thức công bố “bản đồ các đảo ở biển Đông”, xác định đường giới tuyến trên biển của Trung Quốc kéo dài đến vĩ tuyến 4.

    Sau đó, năm 1936 nhà địa lý học Bạch Mi Sơ đã đưa bản đồ này vào tập bản đồ “Trung Hoa kiến thiết toàn đồ” do ông chủ biên. Song, hình hài của những tấm bản đồ tiền thân này dường như chưa bao giờ được nhìn thấy, thay vào đó chúng chỉ được mô tả qua lời của các truyền nhân Trung Hoa ở Trung Quốc, Đài Loan và Hong Kong.

     

    Lâm Tuân (hàng đầu, áo trắng) và các thành viên trên tàu Thái Bình trong cuộc hành quân cưỡng chiếm bất hợp pháp đảo Ba Bình tháng 12/1946. Ảnh: hudong.com

    Dấu vết quan binh Lâm Tuân

    Giới học giả Trung Quốc hiện đang khẳng định: chuyến thị sát biển Đông của Lâm Tuân vào cuối năm 1946 mới chính là tiền đề hình thành cái gọi là bản đồ có đường chữ U ngày nay (tức “đường lưỡi bò”).

    Và năm 2011, các hãng truyền thông lớn của Trung Quốc đồng loạt đưa bài phân tích của giáo sư Lý Kim Minh và Lý Đức Hà thuộc Đại học Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến nhất nhất khẳng định tiền thân của “đường lưỡi bò” là tấm bản đồ “11 đoạn”, vẽ vị trí các đảo ở biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Nam Hải) do Sở Phương vực thuộc Chính phủ Trung Hoa dân quốc vẽ năm 1947 và công bố vào tháng 2/1948.

    Theo tư liệu của Tân Hoa xã: sau khi trù bị mọi phương án ra khơi, ngày 24/10/1946 đội tàu bốn chiếc Thái Bình, Vĩnh Hưng, Trung Kiến, Trung Nghiệp của hải quân Trung Hoa dân quốc do tổng chỉ huy Lâm Tuân và phó tướng Diêu Nhữ Ngọc đã xuất phát từ cửa sông Hoàng Phố ở Thượng Hải hướng thẳng về Quảng Châu để ra biển Đông, với chiêu bài là giải giới quân Nhật. Ba ngày sau đó, đoàn đội Lâm Tuân đã được lãnh đạo Quảng Đông lúc bấy giờ là La Trác Anh làm tiệc rượu tiếp đón nồng hậu tại cảng Du Lâm của Quảng Châu rồi thẳng tiến ra biển Đông.

    Một tư liệu khác từ Hong Kong có thêm tình tiết: sau khi đến Quảng Châu, do thời tiết ở Quảng Châu khi ấy đột ngột chuyển biến xấu nên cả đoàn tàu phải neo đậu tại cảng này đến hơn một tháng. Khoảng 8h sáng 9/12/1946, đoàn tàu chiến bốn chiếc chia làm hai đội đã từ từ rời cảng Du Lâm, hướng thẳng về phía nam. Phó tổng chỉ huy Diêu Nhữ Ngọc chỉ huy hai tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiến tiến xuống quần đảo Hoàng Sa. Tổng chỉ huy Lâm Tuân dẫn đầu hai con tàu Trung Nghiệp và Thái Bình hướng đến quần đảo Trường Sa.

    Hai chiếc Vĩnh Hưng và Trung Kiến sau đó đã đến đảo Phú Lâm, đảo chính ở quần đảo Hoàng Sa. Sau khi lên đảo, đoàn người của Diêu Nhữ Ngọc đã đổi tên đảo Phú Lâm thành đảo Vĩnh Hưng.

    Còn tổng chỉ huy Lâm Tuân theo tàu Thái Bình hướng thẳng đến quần đảo Trường Sa. Về chi tiết này, giáo sư Lý Kim Minh của Trung Quốc cho rằng gần một tháng sau đó, tháng 12/1946 hai tàu do Lâm Tuân dẫn đầu mới đổ bộ lên đảo Itu Aba (tức đảo Ba Bình của VN) thuộc quần đảo Trường Sa. Lâm Tuân lấy tên con tàu Thái Bình để đặt tên cho đảo này.

    Ngoài đoàn thủy thủ, hai con tàu này còn chở theo một số quan chức hành chính của tỉnh Quảng Đông, trong đó có thầy trò Trịnh Tư Duyệt và Tào Hi Mãnh là hai nhân viên của Sở Phương vực thuộc Bộ Nội chính của Chính phủ Trung Hoa dân quốc. Theo tư liệu của Trung Quốc thì hai người này đi theo để làm nhiệm vụ tiếp nhận quần đảo Trường Sa (!?). Ngày 15/12/1946, toàn thể quan binh văn võ đi theo hai tàu này đã có mặt ở đảo này để tiến hành nghi thức dựng bia, tiếp nhận đảo. Đây là một hành động bất hợp pháp, nếu không nói là một sự xâm phạm trắng trợn chủ quyền của VN.

     

    Bình luận của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc

    Khi thương nghị với các nước thuộc phe đồng minh về việc giải giới và xử lý đối với Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong Tuyên bố Potsdam đưa ra ngày 24/7/1945 giữa Harry S.Truman (tổng thống Hoa Kỳ), Winston Churchill (thủ tướng Anh) và Tưởng Giới Thạch (tổng thống Trung Hoa dân quốc) đã không yêu cầu “thu hồi” Hoàng Sa và Trường Sa về cho Trung Quốc, vì một lẽ đơn giản là hai quần đảo này không thuộc Trung Quốc.

    Điều này là lý do giải thích vì sao tại Hội nghị San Francisco 1951 sau đó, các nước đồng minh đã không yêu cầu Nhật Bản trao trả cho Trung Quốc “quần đảo Tân Nam” (Shinnan Shoto - Trường Sa) và một phần quần đảo Hoàng Sa mà quân đội Nhật đã chiếm đóng, xây dựng căn cứ quân sự trong Thế chiến thứ hai.

    Và như vậy, việc đưa tàu chiến ra chiếm đóng Hoàng sa - Trường sa của tướng Lâm Tuân năm 1946 là một cưỡng chiếm bất hợp pháp.

     

    http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Diem-khoi-dau-cua-cai-goi-la-duong-luoi-bo/20128/225836.datviet

    215461
    'Đường lưỡi bò' được 'sáng tác' ra sao?

     

    Cập nhật lúc :3:52 PM, 02/08/2012

     

    Nói về chuyến đi của tướng hải quân Lâm Tuân, lý do mà chính phủ Trung Hoa dân quốc đưa ra là để khảo sát xem tàn quân Nhật còn lẩn khuất đâu đó trên các đảo ở biển Đông hay không.

     

    Song, chính luận điệu này đã cho thấy sự lật lọng của họ, bởi tại thời điểm mà đoàn đội Lâm Tuân xuất bến ra khơi, chính phủ Trung Hoa dân quốc đã hết quyền giải giáp quân Nhật đến những tám tháng.

    Bằng chứng được ghi rõ trong hiệp ước Trùng Khánh mà họ đã ký với chính phủ thực dân Pháp hồi tháng 2/1946.

    Điều này khẳng định việc cưỡng chiếm bất hợp pháp của họ đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa năm 1946. Và điều nghiêm trọng hơn, “đường lưỡi bò” đã ra đời từ đây, để rồi liếm trọn hơn 80% biển Đông.

     

    Bản đồ “Nam Hải chư đảo vị trí đồ” do Sở Phương vực (Trung Hoa dân quốc) biên soạn năm 1947 sau chuyến đi của Lâm Tuân. Bản đồ được vẽ và viết bằng tay. Đây là tiền thân của cái gọi là “đường chữ U” hiện nay. Ảnh: hudong.cn

    “Trại sáng tác đường lưỡi bò”

    Một số học giả Trung Quốc đại lục khẳng định chuyến đi từ đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa đến đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam kéo dài hai tháng. Khi trở về Quảng Châu, tổng chỉ huy Lâm Tuân cùng một số học giả, nhà địa lý và chuyên gia sử học cùng ngồi lại để phác họa, vẽ ra cái gọi là bản đồ “11 đoạn” rồi giao cho Sở Phương vực thuộc bộ nội chính của chính quyền Trung Hoa dân quốc in ấn vào tháng 10/1947.

    Tuy nhiên, tư liệu do tuần báo Phượng Hoàng (Hong Kong) trong cuộc gặp gỡ những người liên quan đến chuyến đi của Lâm Tuân đang sống ở Đài Loan lại cho biết người vẽ bản đồ “11 đoạn” không phải Lâm Tuân mà chính là giám đốc Sở Phương vực Phó Giác Kim. Ông này đã căn cứ trên những tư liệu sơ sài của Lâm Tuân, Trịnh Tư Duyệt và Tào Hi Mãnh để vẽ bản đồ trên. Tư liệu trên chỉ kể sơ sài rằng Trịnh Tư Duyệt sau khi trở về lục địa đã cùng với Phó Giác Kim chỉnh lý tư liệu thu thập được trên chuyến hành trình, sau đó trình lên viện hành chính thẩm định để chuẩn bị cho vẽ và in ấn.

    Trong mớ tài liệu trình thẩm định này có bản đồ vị trí các đảo ở biển Đông do Bộ nội chính vẽ, bản đồ quần đảo Hoàng Sa, cụm đảo Đông Sa, quần đảo Trường Sa, đảo Phú Lâm và đảo Ba Bình cùng những tư liệu về tên gọi mới và cũ của các đảo ở biển Đông. Cách mô tả của truyền thông Trung Quốc và Hong Kong nhằm tạo cảm giác cho người đọc rằng Trung Quốc đã rất chặt chẽ trong quá trình vẽ bản đồ biển Đông từ lúc này, song trên thực tế ngoài tấm bản đồ 11 đoạn với những ghi chú bằng nét chữ viết tay thì không ai thấy được những bản bút lục thật sự của những tư liệu của “bậc tiền bối” Trung Quốc để lại cho con cháu họ sau này.

    Trong cuộc họp buổi chiều 14/4/1947, Bộ nội chính Trung Hoa dân quốc đã triệu tập hội nghị xác định phạm vi và chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hội nghị quy tụ những quan chức cấp cao của Trung Hoa dân quốc như Phó Giác Kim, tổng tư lệnh Lâm Tuân, đại diện bộ ngoại giao Trần Trạch Tương, đại diện bộ quốc phòng Mã Định Ba và Vương Chính Tự thuộc bộ nội chính. Các thành phần trên đã quyết định lấy vĩ tuyến 4 độ vĩ bắc, với chót điểm là bãi đá ngầm James ở gần Malaysia làm cực nam của bản đồ “đường 11 đoạn”. Đây chính là tiền thân của “đường lưỡi bò” ngày nay, cái mà Trung Quốc gọi là “đường chữ U” hay “đường 9 đoạn”.

    Từ “11 đoạn” đến “9 đoạn”

    Đến tháng 2/1948, Sở Phương vực đã gộp bản đồ biển Đông này vào “bản đồ khu vực hành chính của Trung Hoa dân quốc” và cho phát hành chính thức chỉ ở Trung Quốc. Chuyện phát hành bản đồ này chỉ diễn ra ở Trung Quốc thời bấy giờ, không có một công bố nào ở quốc tế cũng như khu vực châu Á nên không một quốc gia nào biết được Trung Quốc đã có một bản đồ về biển Đông “11 đoạn” như thế.

    Bản đồ “11 đoạn” xuất hiện trong giai đoạn 1947-1949, khi Trung Quốc rơi vào nội chiến giữa Quốc Dân đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu với quân đội do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Sau ba chiến dịch Liêu Ninh - Thẩm Dương, Hoài Hải và Bình Tân, chỉ trong hai năm 1947-1948, hồng quân Trung Quốc đã bẻ gãy được xương sống của quân đội Quốc Dân đảng khi tiêu diệt 144 sư đoàn quân chính quy và 29 sư đoàn không chính quy của Quốc Dân đảng. Cho đến đầu năm 1949, chính quyền Quốc Dân đảng dần rút khỏi Trung Quốc và tháo chạy về Đài Loan.

    Như vậy tấm bản đồ này ra đời chưa được bao lâu đã phải chịu số phận chết yểu khi chính quyền tạo dựng ra nó phải tháo chạy thoát thân khỏi Trung Quốc. Tấm bản đồ phút chốc đã biến thành tờ giấy lộn vô nghĩa khi mà trên trường quốc tế chẳng ai thừa nhận nó.

    Thêm vào đó, tính vô hiệu lực của bản đồ này càng được thể hiện rõ khi ngày 4/12/1950, bộ trưởng ngoại giao của Trung Quốc lúc này là Chu Ân Lai đã tuyên bố tán thành bản tuyên ngôn Cairo năm 1943 được ba bên là Anh, Mỹ và Trung Quốc thống nhất, trong đó Trung Hoa dân quốc không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hai văn kiện này đều là văn kiện có chứng thực của quốc tế.

    Tuy nhiên, lòng tham và mưu đồ “liếm” trọn biển Đông đã được “kế thừa”.

    Theo Thời báo Hoàn Cầu, sau khi đuổi Quốc Dân đảng ra khỏi đại lục, năm 1953 Chính phủ CHND Trung Hoa đã phê duyệt cắt bỏ hai đoạn ở vịnh Bắc bộ của Việt Nam để biến “đường 11 đoạn” thành “đường 9 đoạn” nhưng không nêu rõ lý do. “Đường 9 đoạn” này cơ bản giống với “đường 11 đoạn” của Trung Hoa dân quốc, chỉ có điều là nó tham lam hơn, “liếm” sát Việt Nam, Malaysia và Philippines hơn.

    Tờ báo này thừa nhận Chính phủ Trung Quốc từ trước tới nay chưa hề “giải thích” hay nói rõ cho cộng đồng quốc tế về sự tồn tại của “đường 9 đoạn”. Điều này đồng nghĩa với việc Bắc Kinh đã thừa nhận tính vô pháp lý của cái gọi là “đường lưỡi bò” trên trường quốc tế. Thế mà giờ đây họ cứ đem cái “sản phẩm  tượng trưng” này ra để làm bằng chứng “thuyết phục” về yêu sách chủ quyền vô lý của họ ở biển Đông.

     

    Bình luận của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc

    Ngày 26/11/1943, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Tổng thống Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch đã ký một bản tuyên cáo chung (thường được gọi là Tuyên cáo Cairo) trong đó có đoạn viết:

    “Đối tượng của các nước này (tức là của ba nước Đồng minh) là phải tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà nước này đã cưỡng chiếm từ khi có Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 và tất cả các lãnh thổ Nhật Bản đã cướp của người Trung Hoa, như là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, phải được hoàn trả Trung Hoa dân quốc. Nhật Bản cũng sẽ phải bị trục xuất khỏi các lãnh thổ khác đã chiếm được bằng vũ lực và lòng tham”.

    Đọc đoạn trích dẫn trên chúng ta thấy Tuyên cáo Cairo có hai quy định quan trọng:

    - Một là, chỉ có các đất Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ được hoàn trả cho Trung Quốc mà thôi.

    - Hai là, các lãnh thổ khác mà Nhật Bản chiếm được thì bản tuyên cáo này chỉ quy định việc trục xuất Nhật Bản, chứ không hề nói tới việc hoàn trả chúng cho Trung Quốc.

    Như vậy, chúng ta thấy rằng cho đến cuối năm 1943, Tổng thống Tưởng Giới Thạch đã không đề cập đến những quần đảo này trong bản tuyên bố chung cuộc. Nếu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự thuộc chủ quyền của Trung Quốc thì không có lý gì họ Tưởng chỉ đòi hoàn trả có Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ mà lại không đòi luôn Hoàng Sa và Trường Sa.

    http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Duong-luoi-bo-duoc-sang-tac-ra-sao/20128/226086.datviet

     

    215461

    Trung Quốc sẽ thành lập 2 Lữ đoàn Thủy quân lục chiến ở Biển Đông

     

    Thứ năm 09/08/2012 14:56
     

     

    (GDVN) - Trung Quốc quyết định sẽ thành lập 2 lữ đoàn Thủy quân lục chiến và cả 2 lữ đoàn này đều biên chế cho hạm đội Nam Hải.

     


    Tờ Nhân Dân nhật báo Trung Quốc bản điện tử xuất bản 8/8 đưa tin, trong khi giao lưu trực tuyến “Diễn đàn Cường quốc” do báo này tổ chức, Doãn Trác, một học giả lon thiếu tướng hải quân chuyên bình luận thời sự biển Đông theo xu hướng hung hăng, hiếu chiến đã tiết lộ một số thông tin về chiến lược hải quân Trung Quốc.

    Doãn Trác

     

    Chủ đề buổi giao lưu trực tuyến được tờ Nhân Dân nhật báo Trung Quốc đưa ra là “Mỹ, Nhật Bản thay đổi chiến lược phòng thủ chung là nhằm vào an ninh Trung Quốc”, rất nhiều độc giả của tờ báo này đã đặt câu hỏi về tình hình bố trí binh lực hải quân Trung Quốc hiện nay.

     

    Doãn Trác cho hay, hải quân Trung Quốc đặt sở chỉ huy tại Bắc Kinh, trực thuộc có 3 hạm đội, Bắc Hải đặt sở chỉ huy tại Thanh Đảo, Sơn Đông, hạm đội Đông Hải đặt sở chỉ huy tại Ninh Ba, Chiết Giang và hạm đội Nam Hải đặt sở chỉ huy tại Thậm Giang, Quảng Đông.

     

    Hiện tại cả 3 hạm đội này đều không có lực lượng thủy quân lục chiến cấp lữ đoàn.

    Lực lượng xe lội nước hải quân Trung Quốc diễn tập trên biển

     

    Tuy nhiên do những biến động trên Biển Đông trong thời gian vừa qua, hải quân Trung Quốc quyết định sẽ thành lập 2 lữ đoàn Thủy quân lục chiến và cả 2 lữ đoàn này đều biên chế cho hạm đội Nam Hải. Hai hạm đội còn lại hiện chưa có kế hoạch xây dựng lực lượng thủy quân lục chiến quy mô cấp lữ đoàn.

     

    Trước đó, Bắc Kinh vừa tiến hành “đổi soái” khi điều động Vương Đăng Bình – Phó đô đốc, Chính ủy hạm đội Bắc Hải được đánh giá là khá hiếu chiến về làm Chính ủy hạm đội Nam Hải “phụ trách” khu vực Biển Đông thay thế Hoàng Gia Tường.


    http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Trung-Quoc-se-thanh-lap-2-Lu-doan-Thuy-quan-luc-chien-o-Bien-Dong/206967.gd

     

    No_avatar

    Trung Quốc với trò chơi mang danh 'thiện chí'

     

     

     

    Với chuyến công du vòng quanh Châu Á của ngoại trưởng Dương Khiết Trì từ 9 - 13/8, Trung Quốc có vẻ như đang thực hiện ý đồ gây dựng một dạng tập hợp lực lượng mới, ít ra thì cũng trong tầm ngắn hạn để trung hòa bớt các tuyên bố lẫn hành động ngang ngược của họ hiện nay.

    Phần lớn các nước Đông Nam Á đang muốn hàn gắn những rạn nứt bộc lộ công khai ở hội nghị ngoại trưởng ASEAN tại Phnom Penh đầu tháng trước (AMM45). Vì thế, dư luận đặt nhiều câu hỏi về chuyến công du của ngoại trưởng Trung Quốc tại ba nước ASEAN vốn không có tranh chấp gay gắt với Bắc Kinh. Phải chăng Trung Quốc có ý định tiếp tục thúc đẩy âm mưu chia rẽ ASEAN mà họ đã ít nhiều toại ý thời gian qua? Chuyến thăm của ngoại trưởng họ Dương có nhằm kiềm chế Đông Nam Á hình thành một tập hợp lực lượng mới trên vấn đề Biển Đông nhằm đối phó với các hành động ngang ngược của Bắc Kinh?

    Ngăn chặn một mặt trận thống nhất

    Đài RFI ngày 12/8 ghi nhận: chuyến công du năm ngày qua của ông Dương Khiết Trì đã cố tình né tránh Việt Nam và Philippines, là hai thành viên có thái độ kiên quyết nhất đối với Trung Quốc. Hai quốc gia này vốn bị Trung Quốc lấn lướt và hù dọa nhiều nhất trong thời gian qua. Chuyến công du của ông Dương Khiết Trì hiển nhiên nhằm trước hết vào Indonesia, nước có uy tín hàng đầu trong khối Đông Nam Á, và được cho là có quan điểm chừng mực trong ASEAN đối với Trung Quốc, vì không trực tiếp tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông và là quốc gia có nhiều quan hệ, nhất là trên lĩnh vực kinh tế, khá chặt chẽ với Bắc Kinh.

    Tại Jakarta, ngoại trưởng Trung Quốc đã không ngần ngại công khai tôn vinh Indonesia lên hàng "trung gian hòa giải trên vấn đề Biển Đông", và nhắc lại cam kết "sẵn sàng tiến tới" một bộ quy tắc ứng xử với ASEAN (COC). Các tuyên bố này của ông Dương Khiết Trì tương hợp với mong muốn của Jakarta, vì trong thực tế, ngay sau khi Hội nghị Phnom Penh bị đổ vỡ, ngoại trưởng Indonesia đã cấp tốc phát huy vai trò trung gian hòa giải của nước mình để hàn gắn các vết rạn, để thúc đẩy toàn khối thông qua được "Sáu nguyên tắc ứng xử về Biển Đông".

    Kế tiếp, Bắc Kinh tập trung sự quan tâm tới Malaysia và Brunei, hai nước tuy có tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông với Bắc Kinh, nhưng cho đến thời điểm hiện nay, hầu như Trung Quốc chưa đụng chạm đến nhiều. Liệu Trung Quốc có thành công trong việc thuyết phục cả ba nước này tin tưởng vào "thiện chí" của Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông hay không? Căn cứ vào những phát biểu đầu tiên của giới lãnh đạo Indonesia, Malaysia và cả Brunei, thì câu trả lời sẽ là không! Thể hiện rõ nhất là cả ba nước, và ở cấp cao nhất là nguyên thủ hoặc thủ tướng, đều hối thúc Trung Quốc sớm ngồi vào bàn đàm phán để đi tới COC.

    Tại Indonesia, Ngoại trưởng Trung Quốc được nghe chính tổng thống Indonesia Yudhoyono yêu cầu là Bắc Kinh phải tôn trọng các nghị quyết của ASEAN về việc tránh dùng vũ lực và giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp trên biển Đông. Về phần mình, ngoại trưởng Natalegawa cũng nhắc nhở Bắc Kinh: "Giải quyết vấn đề biển Đông cũng là phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc". Thái độ của Malaysia càng rõ ràng hơn khi ngoại trưởng nước này yêu cầu ASEAN đoàn kết hơn nữa trên vấn đề Biển Đông, và kêu gọi toàn khối và Trung Quốc "sớm đúc kết" thành một bộ Quy tắc ứng xử (COC) nhằm giảm thiểu các mối căng thẳng xuất phát từ tranh chấp đánh cá, quyền đi lại và thăm dò dầu khí trên Biển Đông.

    Cảnh giác với tuyên bố của TQ!

    Trong một trả lời phỏng vấn báo chí gần đây, thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược (Bộ Công an) nhắc lại tuyên bố của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào với các nguyên thủ quốc gia châu Phi: "Chúng ta kiên quyết phản đối nước giàu lấn lướt nước nghèo, kiên quyết phản đối nước lớn đàn áp nước nhỏ". Nói thì hay như thế nhưng làm thì hoàn toàn ngược lại!

    Trên nhận thức như thế, các tuyến bố của ngoại trưởng Trung Quốc trong vòng bán dạo món hàng "thiện chí" vừa qua (và sắp tới nếu có!) được dư luận Đông Nam Á cũng như thế giới đón nhận khá dè dặt. Đa số các nước ASEAN đang đi dần tới nhận thức, sẽ phải thông qua ngoại giao nhà nước để vạch rõ các luận điệu xuyên tạc của Trung Quốc. Ai cũng biết, hội nghị AMM45 tại Phnom Penh vừa qua sở dĩ không ra được thông cáo chung là do đâu. Ấy thế nhưng trả lời phỏng vấn Tân Hoa Xã, thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Phó Oánh tuyên bố nguyên nhân không ra được thông cáo chung là do "cá biệt có một số nước tuyên bố chủ quyền ở Nam Hải (tức Biển Đông) có ý đồ muốn áp đặt chủ trương của họ cho ASEAN" (!?)

    Cuối cùng, lời kêu gọi Trung Quốc sớm thỏa thuận với ASEAN về COC dường như vẫn rơi vào thinh không khi mà cho đến nay, Trung Quốc vẫn cho rằng họ chỉ thương thảo với ASEAN về văn kiện này lúc nào "thời cơ chín muồi". Hơn thế nữa, Trung Quốc tiếp tục đưa ra luận điệu là Bắc Kinh chỉ chấp nhận một COC tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc nằm bên trong tấm bản đồ 9 đường gián đoạn mà chính họ vẽ ra. Ngoài ra, Trung Quốc tiếp tục ngang ngược điều động gần ba vạn tàu thuyền đi đánh cá, phát động chiến dịch không quân trên khu vực Biển Đông. Trong bối cảnh đó, thử hỏi nước nào tin vào lời cam kết của ngoại trưởng Trung Quốc tại các bàn đàm phán? Đó cũng là lý do để Trung Quốc không thể thành công trong việc kéo bè lập hội, âm mưu cưỡng chiếm biển đảo của các nước láng giềng!

    http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-08-15-vong-ban-dao-thien-chi-cua-trung-quoc

     
     
    Gửi ý kiến
    print